Trị Ho Bằng Cây Tế Tân

Trị Ho Bằng Cây Tế Tân

Tế tân còn gọi Hoa tế tân, Chi tế tân; Usuhu, Kyushu (Nhật Bản); cố tền khoa học là Asarum sieboldii Miq. thuộc họ Mộc hương Aristolochiaceae.

Tế tân mọc hoang ở trong rừng, khu vực nhiều bóng râm và đất mùn ẩm ướt, trên độ cao từ 1.200m- 2.100m. Tại nước ta cây mọc ở tán rừng ẩm phát hiện ở Ba Vì’(Hà Nội), Hà Quẩng (Cao Bằng). Te tân là loại cây thảo, cao khoảng 20cm. Lá mọc từ thân rễ, thường có 2 lá gốc hình tim, đầu lá nhọn, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông mịn ở đường gân, cuông dài. Thân rễ mọc ngang hình trụ, đầu thân rễ phân nhánh ngắn. Hoa mọc đơn độc, bao hoa hình ống, màu nâu đỏ nhạt, phía trên chia thành 3 cánh hình trứng rộng. Quả nang, gần hình cầu, thò ra khỏi bao hoa, hạt nhiều. Hoa thường mọc vào tháng 2 - 4, có quả tháng 5-7. Cây đặt tên là “Tế tân” vì vị thuổc có rễ nhỏ, vị cay (tế là nhỏ, tân là cay). Trong tiếng Anh tên gọi loài này là Wild ginger (gừng dại) do mùi và vị thân rễ của chúng rất giông với mùi vịcủa gừng và hoa của chúng kỳ dị hình cái ấm cho nên người ta còn gọi là little jug (ấm con).

Bộ phận dùng: Rễ hoặc toàn cây. Rễ cay nồng là tót. Sau khi thu hái về rửa sạch, cắt đoạn 2 - 3cm, phơi trong mát cho khô để dùng. Vị thuốc có tinh dầu dễ bay hơi nên kỵ lửa khi sao chế.

Tế tân vị cay, tính ôn, ả độc; quy kinh

Theo y học cổ truyền: Tế tân vị cay, tính ôn, ả độc; quy kinh: Phế, Tâm, Can, Thận: có tác dụng khư phong, tán hàn, chỉ thông, giải biểu, ôn phế hóa ẩm, thông khiếu; chủ trị các chứng ngoại cảm, phong hàn, nhức đầu (thiên đầu thống), ho tức, tê nhức khớp xương, đau răng, ngạt mũi, bí mồ hôi, ứ huyết. Người âm hư hỏa vượng không có thực tà phong hàn thì không nên dùng. Người bị khí hư mà không ra mồ hôi, huyết hư sinh nhức đầu, âm hư mà ho thì không dùng được. Ngày dùng từ 1 - 4g dưới dạng thuốc sắcTế tân không dùng cùng với Lê lô.

Theo y học hiện đại: Tế tân có các tác dụng:

  • An thần giảm đau, gây tê tại chỗ.
  • Kháng viêm, chống dị ứng.
  • Cường tim, giãn mạch, tăng chuyển hóa lipid, tăng glucose huyết và tăng cường chuyển hóa của cơ thể.
  • Dịch chiết bằng cồn, tinh dầu có tác dụng ức chế vi khuẩn Gram +, trực khuẩn thương hàn, nước sắc của thuốc ức chế trực khuẩn lao, tinh dầu kháng nấm.
  • Dịch chiết bằng cồn tiêm tĩnh mạch thỏ có tác dụng đổì kháng với tác dụng ức chế hô hấp của morphin.
  • Tế tân chứa acid aristolochic trong các bộ phận trên mặt đất có khả năng gây ung thư (ở chuột), suy thận vì vậy không dùng Tế tân quá liều quy định.

Chữa ngoại cảm, phong hàn, đau đầu nghẹt mũi

Một số bài thuốc

  • dùng bài “Ma hoàng phụ tử tế tân thang”. Tế tân 4g, Ma hoàng 4g, Phụ tử 8g, sắc uống.
  • Chữa ho nhiều đờm loãng trong các bệnh hen phế quản, viêm phế quản mãn tính, giãn phế quản dùng bài “Linh cam ngũ vị khương tân thang”: Tế tân 4g, Phục linh 12g, Cam thảo 4g, Can khương 6g, Ngũ vị tử 4g; sắc nước uống.
  • Chữa đau nhức các khớp xương do phong thấp dùng: Tế tân 4g, Xuyên khung 12g, Tần giao 12g, Cam thảo; sắc nước uống.
  • Lâu nay vị thuốc Tế tân nước ta chủ yếu là nhập khẩu hoặc dùng những cây khác thay thế. Một số cây cũng tên “Tế tân” tuy có ở nước ta nhưng ít, bị khai phá, cạn kiệt, chúng thuộc nguồn gen quý, hiếm, cần được bảo vệ, nghiên cứu trồng phát triển để có nguyên liệu dùng làm thuốc.

DSCK2. Nguyễn Thọ Biên