Tác Dụng Của Rau Má

Tác Dụng Của Rau Má

Trong y học cổ truyền, rau má có tên gọi là “Tích tuyết thảo”, vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, lợi tiểu, tiêu viêm, sát khuẩn, cầm máu. Rau má được sử dụng để hạ sốt, chữa các bệnh về gan, thổ huyết, chảy máu cam, khí hư bạch đới. Ớ châu Âu, rau má chủ yếu được sử dụng để chữa các bệnh về da, chất asiaticosid có tác dụng làm lành vết thương, nhanh tạo các mạch máu mới ở vùng da bị tổn thương, chống oxy hóa ở vết thương, tăng tổng hợp colagen, làm nhanh phục hồi các mô. Ớ nước ta, từ những năm 1950, lương y Võ Văn Hưng ở Sở Y tế Nam bộ, đã đưa ra “Toa căn bản” gồm 10 vị, trong đó vị chủ đạo là rau má, có tác dụng kích thích tiêu hóa, giải độc, tăng khả năng đề kháng, nhuận gan, nhuận tràng, sau này được cố Giáo sư Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng khuyến khích sử dụng trong cả nước “Hoàn ích khí” gồm rau má, lá dâu, củ mài và mè đen, được sử dụng làm thuồc bổ cho trẻ em, người già, người mới ốm hoặc sử dụng như lương khô khi đi đường xa.

Rau má có tên khoa học là Centella asiaticaiL.) Urban, tên đồng nghĩa là Hydrocotyle asiatica L. Thuộc họ Hoa tán Apiaceae. ơ Việt Nam, rau má mọc tự nhiên khắp nơi, từ hải đảo, ven biển đến vùng núi đến độ cao dưới 1.800m. Do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng ở các nước như Madagasca, Indonesia, Sri Lanka, Philippines, và cả ở miền Nam Việt Nam, nên rau má đã được trồng khá phổ biến để làm thực phẩm, thuôc và nước giải khát.

Rau má chứa rất nhiều nhóm chất có tác dụng sinh học như saponin triterpenic, nhóm này bao gồm 2 tiểu nhóm là asiaticosid và thankunisid, ilavonoid, polyacetylen, tinh dầu, carotenoid, alkaloid và oligosaccharid. Rau má đã được chứng minh có các tác dụng: chống viêm, chống dị ứng, chống co thắt phế quản, chống oxy hóa, kháng khuẩn, làm lành vết thương, chống thiểu năng tĩnh mạch, ức chế thần kinh trung ương, an thần, hạ huyết áp, chống virus herpes II và chống ung thư. Năm 2004, Ya Ling Hsu ở khoa Dược - Cao Hùng - Đài Loan đã được cấp bằng sáng chế số us 2004/0097463A1 về việc các tác giả này đã sử dụng acid asiatic vàung thư vú, ung thư túi mật, ung thư bàng quang, ung thư não, ung thư cổ, ung thư dạ dày, ung thư màng tử cung, ung thư thực quản, ung thư tủy xương. Ngoài ra, hai hợp chất này còn được sử dụng để điều trị bệnh tăng sinh như vẩy nến, u mỡ, polyp nội kết, đau nang thận. Trước đó vào năm 2000, các tác giả Hàn Quốc là Sang Sup Jew và cộng sự, đã được Hoa Kỳ cấp bằng sáng chế số 6,071,898,2000, Jun.6 ve việc tổng hợp các dẫn chất của acid asiatic, bằng cách biến đổi vòng A và nghiên cứu tác dụng chống ung thư và bảo vệ gan. Acid asiatic còn có tác dụng kháng khuẩn, chống xơ vữa động mạch, kháng viêm, giảm đau, tăng tổng hợp colagen giúp làm nhanh liền vết thương vết bỏng. Năm 2006, các nhà khoa học Thái Lan đã chứng minh, rau má có tác dụng tăng cường chức năng của hệ thần kinh ở người già.

Trên thị trường đã có nhiều sản phẩm bào chế từ rau má như: Pomat chứa 1 và 2% cao rau má điều trị vết thương, vết bỏng. Kem chứa 1% cao rau má, điều trị các bệnh về da nhiễm trùng mạn tính. Viên nang chứa cao rau má hoặc asiaticosid và kali clorid thay thế Dapson điều trị bệnh phong.

PGS.TS. Nguyễn Thượng Dong