Bệnh Whitmore Kẻ Bắt Chước Nguy Hiểm

Bệnh Whitmore Kẻ Bắt Chước Nguy Hiểm

Bệnh Whitmore hay còn được gọi là bệnh Melioidosis, đặt theo tên của nhà nghiên cứu bệnh học Alíred Whitmore, người đầu tiên báo cáo bệnh này vào năm 1912, sau khi khám nghiệm tử thi những người ăn xin, người nghiện á phiện ở Rangoon (Myanmar). Mầm bệnh cũng được gọi là trực khuẩn Whitmore, đã được xác định vào năm 1917 tại Kuala Lumpur. Đây là bệnh nhiễm trùng gây ra do nhiễm vi khuẩn gram âm Burkholderia pseudomallef, trước đây gọi là Pseudomonas pseudomallei.

Việt Nam là quốc gia trong vùng dịch tễ quan trọng, trong thời gian 1948 - 1973, đã có khoảng 100 lính Pháp và 343 lính Mỹ ở Việt Nam bị nhiễm bệnh.

Vi khuẩn Burkholderia pseudomallei được tìm thấy ở trong nước bẩn, đất; chúng lây nhiễm sang người và các loại động vật qua tiếp xúc trực tiếp với các nguồn nước bẩn, đất bị ô nhiễm, qua các vết trầy xước ở ngoài da. Sự nhiễm trùng này thường xảy ra khá phổ biến trong mùa mưa. Vi khuẩn này còn được biết đến như là một tác nhân có thể sử dụng làm vũ khí vi trùng

Một mô hình thống kê dự báo (với độ tin cậy 95%) đến năm 2016, có khoảng 165.000 trường hợp mắc bệnh mỗi năm, trong đó 138.000 trường hợp xảy ra tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương, khoảng một nửa trong sô" đó sẽ chết. Vùng Đông Bắc Thái Lan có tỷ lệ mắc Whitmore cao nhất trên thế giới (tỷ lệ trung bình là 12,7 trường hợp trên 100.000 người mỗi năm).

Trung bình thời gian ủ bệnh của Whitmore cấp tính là 9 ngày (từ 1 - 21 ngày). Bệnh nhân Whitmore tiềm ẩn có thể mang mầm bệnh trong nhiều thập kỷ; thời gian ủ bệnh dài nhất được ghi nhận là 62 năm.

Điều quan trọng đáng chú ý là bệnh Whitmore thường được gọi là “kẻ bắt chước vĩ đại” vì bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng rất dễ nhầm lẫn với một sô" bệnh khác như lao, viêm phổi,...

Bệnh Whitmore thường có sốt và đau nhức. Triệu chứng ho hoặc đau ngực làm nghĩ đến bệnh viêm phổi. Đau nhức xương khớp gợi ý bệnh viêm tủy xương hoặc viêm khớp nhiễm khuẩn, hoặc viêm mô tế bào. Nhiễm trùng nhiều nơi trong ổ bụng (bao gồm áp xe gan, áp xe lách hoặc áp xe tuyến tiền liệt) nhưng thường không làm bệnh nhân đau, vì vậy, nên làm siêu âm bụng hoặc CT bụng để tầm soát các ổ nhiễm trùng nội tạng.

Trẻ em Thái Lan có hình ảnh bệnh lý đặc trưng: áp xe tuyến mang tai, trong khi 20% nam giới úc bị áp xe tuyến tiền liệt. Các bệnh cảnh này hiếm khi gặp ở nơi khác.

Bệnh Whitmore có thể ảnh hưởng đến bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể. Viêm màng não cũng đã được ghi nhận, ít khi gặp nhiễm trùng mạch máu, áp xe hạch bạch huyết, viêm cơ tim, nhiễm trùng trung thất, áp xe vùng bìu và nhiễm trùng ở mắt.

Bệnh Whitmore có thể ảnh hưởng đến bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể.

Thể bệnh khu trú

Vi khuẩn di vào da qua vết trầy, làm nhiễm trùng tại chỗ với các vết loét tiến triển. Thời gian ủ bệnh thường 1-5 ngày. Các hạch lympho sưng to. Vi khuẩn xâm nhập qua niêm mạc có thể gây tăng tiết nhầy tại chỗ. Bệnh biểu hiện sốt và đau cơ toàn thân. Bệnh có thể khu trú hoặc có thể diễn tiến nhanh chóng gây nhiễm trùng huyết.

Thể phổi

Khi vi khuẩn vào cơ thể bằng đường đường hô hấp, thời gian ủ bệnh khoảng 10 - 14 ngày, có thể gây ra viêm phổi, áp xe phổi và tràn dịch màng phổi.

Bệnh bắt đầu bởi sốt cao, nhức đầu, chán ăn và đau mỏi cơ toàn thân. Bệnh nhân thường bị đau ngực, ho có đờm hoặc không. Tổn thương trên phim chụp X quang phổi tương tự như hình ảnh lao phổi.

Thể nhiễm trùng huyết

Khi vi khuẩn phát tán và di chuyển trong dòng máu Nhiễm trùng huyết phát triển và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, da, gan, lách cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọngế

Các triệu chứng của nhiễm trùng huyết có thể là sốt, nhức đầu, suy hô hấp, đau bụng, đau khớp, mất định hướng. Khởi đầu các triệu chứng thường rất nhanh và phát hiện áp xe ở nhiều nơi trong cơ thể, đáng chú ý là gan, lách và tuyến tiền liệt.

Nhiễm trùng huyết có thể rất nặng, với 90% tử vong xảy ra trong vòng 24 - 48 giờ. Các bệnh nhân có các yếu tố nền sẵn có như đái tháo đường, nhiễm HIV và suy thận thường có xu hướng diễn tiến đến thể bệnh này và thường dẫn đến hậu quả sốc nhiễm trùng...

Thể nhiễm trùng lan tỏa

Bệnh Whitmore lan tỏa là một bệnh nhiễm trùng biểu hiện với các ổ áp xe hình thành tại nhiều cơ quan khác nhau trong cơ thể. Các cơ quan liên quan thường là gan, phổi, lách và tuyến tiền liệt; các khớp, các xương, hệ lympho, da và não cũng có thể xảy ra. Người bệnh cũng bị sốt, sụt cân, đau ngực, đau dạ dày, đau mình, nhức đầu và co giật …

Thể mạn tính

Thể mạn tính liên quan đến áp xe đa ổ và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan gan, lách, da, cơ và có thể tái hoạt nhiều năm sau khi nhiễm trùng tiên phát.

Chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán bệnh Whitmore được xác định qua việc nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các bệnh phẩm máu, nước tiểu, đờm hoặc mẫu da tại phòng xét nghiệm Một xét nghiệm máu rất có ích để phát hiện sớm các trường hợp cấp tính của bệnh Whitmore, nhưng không thể loại trừ bệnh nếu xét nghiệm âm tính.

Nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh hiện đại đã được áp dụng để phát hiện nhanh chóng và chính xác vi trùng gây bệnh đã được áp dụng như: phản ứng ngưng kết hạt latex, kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang phát hiện kháng thể, kỹ thuật PCR (phản ứng chuỗi polymerase - Polymerase chain reaction).

Hiện nay, TS. Trịnh Thành Trung - Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, Viện Vi Sinh vật và Công nghệsinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, người có hơn 10 năm nghiên cứu chuyên sâu về vi khuẩn Whitmore, đã triển khai phương pháp xét nghiệm mới, giá thành rất rẻ, với độ chính xác trên 97%, rất dễ dàng triển khai trên những chủng vi khuẩn nghi ngờ là bệnh, từ đó khó có thể bỏ sót ca bệnh nào.

Khi các bệnh viện tuyến tỉnh đã xét nghiệm được bệnh Whitmore thì người nhiễm bệnh sẽ được điều trị đúng, không phải chuyển bệnh lên tuyến trên, giảm được chi phí điều trị bệnh.

Khi các bệnh viện tuyến tỉnh đã xét nghiệm được bệnh Whitmore thì người nhiễm bệnh sẽ được điều trị đúng, không phải chuyển bệnh lên tuyến trên, giảm được chi phí điều trị bệnh.

Vấn đề điều trị

Burkhoỉderia pseudomallei, gây bệnh Whitmore thường nhạy với các thuốc: ceftazidim, imipenem, meropenem, doxycyclin, trimethoprim -sulfamethoxazol, piperacillin, amoxicillin - clavulanic acid, azlocillin, ticarcillin - clavulanat, ceftriaxon, aztreonam.

Điều trị nên bắt đầu sớm ngay khi phát hiện ra bệnh, vì bệnh Whitmore có thể tiến triển thành các thể nặng hơn và thậm chí có thể tử vong. Khả năng sông còn lệ thuộc vào thể trạng và khả năng cơ thể của người bệnh chống lại bệnh này.

Điều trị ngay bằng kháng sinh truyền tĩnh mạch và sau đó sẽ là kháng sinh uống trong nhiều tháng. Bệnh nhân phải tuân thủ điều trị và tái khám đúng hẹn sau khi xuất viện để chắc chắn mình đã được điều trị hết bệnh.

Việc điều trị bệnh Whitmore liên quan đến các kháng sinh và tùy thuộc vào vị trí thương tổn cũng như từng thể của bệnh. Trước đây tỷ lệ tử vong của bệnh lên đến 70%, ngày nay nhờ có phương pháp chẩn đoán hiện đại, nhiều phương tiện máy móc hồi sức tối tân, thuốc kháng sinh mới đã làm giảm được tỷ lệ tử vong xuống còn khoảng 40%.

Phòng ngừa

Đây là bệnh nguy hiểm nhưng chưa có vắc xin phòng bệnh. Bệnh gần như không lây truyền từ người sang người. Những người có nguy cơ bao gồm những bệnh nhân bị đái tháo đường, suy thận mãn tính, bệnh phổi mãn tính, hoặc suy giảm miễn dịch bất cứ loại nào. Các biện pháp làm giảm tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh vẫn chưa được thành lập. Bệnh liên quan rõ ràng với lượng mưa tăng lên.

BS.Minh Khuê